Aminoglycosid là thuốc gì?

Nhóm kháng sinh Aminoglycosid

Gentamicin là một thuốc thuộc nhóm kháng sinh Aminoglycosid

Aminoglycosid là nhóm kháng sinh diệt khuẩn, hoạt động bằng cách phá huỷ màng tế bào của vi khuẩn. Aminoglycosid có hoạt tính đặc biệt chống lại các vi khuẩn gram âm hiếu khí và tác dụng hiệp đồng chống lại một số vi khuẩn gram dương. Aminoglycosid được sử dụng nhiều nhất là gentamicin, nhưng amikacin lại có thể đặc biệt hiệu quả trên các chủng vi khuẩn đề kháng. Aminoglycosid thường được sử dụng điều trị các nhiễm khuẩn nặng vùng bụng và đường tiết niệu, cũng như điều trị vãng khuẩn huyết và viêm nội tâm mạc. Chúng cũng còn được sử dụng để dự phòng nhiễm khuẩn, và đặc biệt dự phòng viêm nội tâm mạc.

Khả năng kháng kháng sinh aminoglycoside của vi khuẩn

Hiện tượng đề kháng hiếm khi xảy ra, nhưng tần suất đề kháng cũng đang dần tăng lên. Tránh sử dụng kéo dài, tránh giảm thể tích dịch ngoại bào và tránh sử dụng đồng thời với các tác nhân có khả năng gây độc thận khác là những biện pháp giúp giảm nguy cơ gây độc tính. Có thể dùng liều đơn aminoglycosid mỗi ngày do thuốc có tác dụng diệt khuẩn phụ thuộc nồng độ nhanh, có tác dụng hậu kháng sinh và có khả năng làm giảm độc tính. Liều đơn aminoglycosid an toàn, hiệu quả và kinh tế. Tuy nhiên trong một số trường hợp lâm sàng, như bệnh nhân viêm nội tâm mạc hoặc bệnh nhi, chế độ nhiều liều/ngày truyền thống vẫn thường được khuyến cáo.

Các đường đưa thuốc đối với aminoglycosid

Aminoglycosid kém hấp thu qua đường tiêu hoá. Sau khi được đưa vào bằng đường tiêm, aminoglycosid được phân bố chủ yếu trong các dịch ngoại bào. Do đó, khi có xuất hiện các tình trạng bệnh lý hoặc các bệnh gây ra do thuốc làm mất cân bằng thể dịch trong cơ thể, thì cần thiết phải có sự điều chỉnh liều. Khi sử dụng ngoài đường tiêu hoá (đường tiêm), nồng độ thuốc thích hợp thường được tìm thấy ở xương, dịch khớp và dịch màng bụng. Sự thẩm thấu qua màng sinh học của thuốc khá kém vì phân tử có cấu trúc phân cực, nồng độ nội bào của thuốc thường cũng khá thấp, ngoại trừ ống lượn gần. Đưa thuốc đường nội khí quản cho kết quả nồng độ phế quản cao hơn so với đường toàn thân, tuy nhiên sự khác nhau về kết quả lâm sàng cũng chưa thống nhất.

Sau khi sử dụng aminoglycosid ngoài đường tiêu hoá, nồng độ dưới ngưỡng điều trị của thuốc thường được tìm thấy ở dịch não tuỷ, dịch thuỷ tinh thể, tuyến tiền liệt và não. Aminoglycosid cũng được đào thải nhanh qua bộ lọc cầu thận, do đó làm thời gian bán thải huyết tương thay đổi từ 2 giờ ở bệnh nhân có chức năng thận “bình thường”, đến 30 – 60 giờ ở những bệnh nhân chức năng thận bị suy. Thời gian bán thải của aminoglycosid ở vùng vỏ thận xấp xỉ 100 giờ, do đó liều lặp đi lặp lại có thể gây tích luỹ tại thận và dẫn đến độc tính.

Các trường hợp lâm sàng phổ biến điều trị bằng Aminoglycosid

  • Nhiễm trùng phức tạp ở da, xương hoặc các mô mềm
  • Nhiễm trùng gram âm nghiêm trọng, gây nguy hiểm đến tính mạng
  • Nhiễm trùng phức tạp đường tiết niệu
  • Viêm phúc mạc và các trường hợp nhiễm khuẩn đường tiêu hoá nghiêm trọng khác
  • Nhiễm trùng huyết
  • Viêm vùng xương chậu nghiêm trọng
  • Nhiễm trùng do mycobacterium
  • Viêm nội tâm mạc
  • Nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh
  • Viêm tai giữa (cục bộ)
  • Nhiễm trùng mắt (cục bộ)

TƯƠNG TÁC THUỐC VÀ TÁC DỤNG PHỤ

Tobramycin là một kháng sinh nhóm aminoglycosid

Cơ thể không chuyển hoá aminoglycosid, do đó hoạt tính của chúng không bị thay đổi bởi sự  kích thích hay ức chế các enzym chuyển hoá, như các enzym trong hệ thống cytochrome P450. Một số loại thuốc có thể làm  tăng khả năng độc tính trên thận khi sử dụng chung với aminoglycosid

Các yếu tố nguy cơ làm tăng độc tính trên thận của  aminoglycosid

Các yếu tố có khả năng thay đổi

  • Sử dụng thuốc cản quang
  • Sử dụng các loại thuốc lợi tiểu
  • Giảm thể tích tuần hòa dịch ngoại bào  hiệu quả
  • Sử dụng nhóm NSAID
  • Sử dụng các thuốc ức chế ACE 
  • Sử dụng đồng thời với amphotericin (Fungizone IV)
  • Sử dụng các thuốc gây độc thận khác
  • Sử dụng cisplatin (Platinol)

Các yếu tố không thể thay đổi

  • Tuổi
  • Bệnh thận đã có trước đó

Các độc tính của aminoglycosid bao gồm độc thận, độc tai (tiền đình và thính giác), một số khác hiếm gặp như phong bế thần kinh cơ và các phản ứng quá mẫn. Độc tính trên thận được  chú ý nhiều nhất, có lẽ là do nguồn tài liệu về suy giảm chức năng thận dễ dàng tìm được hơn, tuy nhiên  độc tính này thường có tính hồi phục.

Độc tính trên tai thường không hồi phục. Ban đầu, độc tính tai được cho là do kết quả của nồng độ đỉnh trong huyết thanh cao thoáng qua, dẫn đến nồng độ của thuốc ở tai trong cũng tăng cao. Các nghiên cứu gần đây trên mô hình động vật đã chỉ ra sự tích tụ của aminoglycosid ở tai  phụ thuộc vào nồng độ nhưng có thể bão hoà. Một khi chạm đền ngưỡng nồng độ kháng sinh, sự gia tăng nồng độ thuốc cũng không làm tăng khả năng hấp thu. Các nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy có sự gia tăng tích tụ thuốc ở cơ quan ốc tai của vỏ não khi tiêm truyền liên tục so với tiêm gián đoạn từ 30 – 60 phút aminoglycosid.

Độc thận do tích tụ ở vỏ thận làm dẫn đến sự thoái hoá và tróc vảy các tế bào ống thận. Việc kiểm tra các chất cặn bã trong nước tiểu có thể phát hiện được các tế bào tróc vảy  trụ hạt màu nâu bẩn, mịn hoặc kết tinh, là những dấu hiệu của hoại tử ống thận cấp nhưng không đặc hiệu cho độc tính trên thận của aminoglycosid. Mặc dù nồng độ creatinin huyết thanh thường được theo dõi trong suốt quá trình sử dụng aminoglycosid,  sự tăng cao tỉ lệ creatinin huyết thanh nhiều khả năng là do tình trạng tổn thương cầu thận hơn là tổn thương ống thận. Tuy nhiên, trong hầu hết các thử nghiệm lâm sàng với aminoglycosid, độc tính trên thận đã được xác định là do sự tăng cao của creatinin huyết thanh. Theo dõi định kỳ nồng độ creatinin huyết thanh có thể giúp cảnh báo cho dược sĩ về khả năng độc thận của bệnh nhân.

Để giảm thiểu độc tính, các bác sĩ gia đình nên  cân nhắc một số điểm quan trọng sau:

(1) Aminoglicosid thường chỉ nên sử dụng khi cần thiết điều trị bằng một kháng sinh có hiệu lực mạnh đặc biệt, ví dụ như các bệnh nhân nhiễm trùng nặng, nhiễm trùng bệnh viện hoặc ác nhiễm khuẩn khác với các tác nhân đã đề kháng với các liệu pháp điều trị ít độc hơn.

(2) Bác sĩ lâm sàng nên chuyển sang một loại kháng sinh khác ít độc hại hơn ngay khi vi khuẩn gây bệnh và khả năng nhạy cảm của nó với kháng sinh đã được xác định.

(3) Các yếu tố nguy cơ có thể gây độc thận nên được xác định và điều trị nếu cần thiết.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *